Kiểm tra tim thai như thế nào?

21/10/2015 08:41

Sau tuần thứ 30, khi đi khám thai các mẹ bầu sẽ được bác sĩ chỉ định làm kiểm tra tim thai và cơn co của tử cung. Mỗi lần kiểm tra mất 1 khoảng thời gian từ 30-45 phút. Vậy kiểm tra tim thai như thế nào?

Monitoring sản khoa ghi lại đồng thời nhịp tim thai và hoạt động cơ tử cung (TC). Đường biểu diễn thu được gọi là CTG (cardiotogram). Khi đánh giá và diễn dịch các đường ghi trên CTG phải đánh giá các đặc điểm của nhịp tim thai và hoạt động của cơn co tử cung. Bất kỳ sự sai lệch nào vượt ra ngoài các đường biểu diễn bình thường cũng cần được nhận biết và phân tích để đưa đến một kết luận đúng đắn trong quá trình theo dõi chuyển dạ để tránh dẫn đến can thiệp muộn hoặc can thiệp không cần thiết cho mẹ và thai.

I. ĐƯỜNG BIỂU DIỄN TIM THAI (TT)  BÌNH THƯỜNG VÀ BẤT THƯỜNG:

1. Đường biểu diễn tim thai bình thường:

- Nhịp tim thai cơ bản từ 120- 150 nhịp/phút

- Các nhịp tăng xuất hiện rải rác

- Dao động nội tại bình thường từ 5- 25 nhịp/ phút

- Không có nhịp giảm.

 CTG1

2 Các đường biểu diễn tim thai bất thường:

2.1 Nhịp tim thai cơ bản:

- Bình thường: 120- 150 nhịp/phút đối với thai đủ tháng.

- Nếu > 150 nhịp/phút gọi là nhịp nhanh.

- Nhịp tim thai cơ bản nằm trong khoảng 100-120 nhịp/phút: nghi ngờ,

- Nhịp tim thai cơ bản < 100 nhịp/phút: bệnh lý.

2.2 Nhịp chậm: Nhịp chậm có thể là kết quả của sự gia tăng huyết áp tức thì, thông qua phản xạ của Receptor áp lực, có thể là ảnh hưởng của thiếu oxygen trên cơ tim hoặc rối loạn nhịp tim thai.

Nguyên nhân của nhịp chậm:

- Mẹ dùng thuốc (hạ huyết áp)

- Mẹ tụt huyết áp hoặc choáng, co giật, hạ thân nhiệt

- OVN, OVS,  Chèn ép dây rốn,  Nhau bong non, Thai già tháng

- Rối loạn nhịp tim thai, Block nhĩ thất hoàn toàn

- Ghi nhầm nhịp tim mẹ, chia đôi nhịp tim thai.

 CTG2

2.3 Nhịp tim nhanh

Nhịp nhanh là nhịp tim thai cơ bản > 150 nhịp/phút, thường liên quan đến khả năng đối phó của thai nhi với một đe dọa nào đó đối với sức khỏe. Nhịp tim nhanh mà không có các nhịp tăng cùng với giảm hoặc mất dao động nội tại, hoặc nhịp giảm muộn biểu hiện tình trạng thai thiếu oxy nặng nề.

Các nguyên nhân của nhịp tim thai nhanh:

- Mẹ sốt, lo lắng, cường giáp

- Viêm màng ối

- Thai nhi thiếu máu, thai bị nhiễm virus hay nhiễm trùng

- Thai thiếu oxy, thai nhi ở trong trạng thái hoạt động

- Sau một nhịp giảm kéo dài

- Sau khi gây tê ngoài màng cứng

- Cuồng nhĩ, nhịp nhanh kịch phát nhĩ

 CTG3

2.4 Các đường biểu diễn TT cơ bản đặc thù khác

* Dịch chuyển đường tim thai cơ bản: Dịch chuyển đường tim thai cơ bản có thể diễn ra theo hướng đi lên hoặc đi xuống. Nếu đi lên có thể do tình trạng nhiễm trùng trong TC, thai thiếu oxy do bất kỳ nguyên nhân nào (chèn ép rốn). Dịch chuyển đường tim thai cơ bản trong giai đoạn 2 của chuyển dạ thường liên quan đến pH máu cuống rốn thấp.

 CTG4

* Đường cơ bản nhấp nhô: Nhịp tim thai chậm nặng nề có thể thấy trong các trường hợp tắc nghẽn tuần hoàn dây rốn, nhau bong non hoặc biến chứng của mẹ như tụt huyết áp, choáng, co giật, vỡ tử cung hay cơ TC bị kích thích quá mức. Trong trường hợp đường cơ bản nhấp nhô xuất hiện trong khoảng thời gian giới hạn nhịp TT bình thường cũng có thể phản ánh tổn thương thần kinh của thai nhi.

* Đường cơ bản không rõ: không xác định được đường tim thai cơ bản. Lý do của đường cơ bản không rõ có thể là một loạt các nhịp tăng, tăng dao động nội tại, các nhịp giảm biến đổi xuất hiện kế tiếp nhau hoặc là rối loạn nhịp TT.

* Nhịp tăng: là dấu chỉ điểm của bào thai khỏe mạnh hay còn gọi là đường biểu diễn tim thai có đáp ứng.

 CTG5

 

* Dao động nội tại: những yếu tố ảnh hưởng đến dao động nội tại

 CTG11

Dao động của nhịp tim thai luôn giảm trước khi thai chết, như là hậu quả của tình trạng thiếu oxy và nhiễm toan kéo dài. Một đường biểu diễn tim thai phẳng hay dẹt (dao động nội tại từ 0- 2 nhịp/ phút) là một trong những kiểu tim thai đáng ngại nhất. Tuy nhiên chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng một thai nhi đang chết dần vẫn có thể duy trì được một tim thai trong giới hạn bình thường.

Nhịp giảm :

+ Nhịp giảm sớm : Nhịp giảm sớm trên lâm sàng thường là do phản xạ thần kinh khi đầu thai nhi bị chèn ép vào tiểu khung ở mỗi cơn co TC.

+ Nhịp giảm biến đổi:  Nhịp giảm biến đổi thường quy cho chèn ép rốn, có thể một phần hay toàn bộ. Sự phối hợp giữa nhịp giảm biến đổi, giảm dao động nội tại, tim thai nhanh tương đối và không thấy có nhịp tăng thường liên quan đến hội chứng hít phân su.

+ Nhịp giảm muộn Nhịp giảm muộn có khởi đầu, đạt trị số cực tiểu và kết thúc ở thời điểm chậm hơn so với cơn co TC ít nhất 15 giây. Nhịp giảm muộn đi kèm với giảm dao động nội tại cùng với không có sự hiện diện của nhịp tăng là một dấu hiệu rất muộn của tình trạng thai nhi nguy kịch

 CTG7

 CTG8

Ths Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh

   

Mọi phản ánh, ý kiến đóng góp, thông tin nóng, bài vở cộng tác của độc giả có thể gửi cho Ban biên tập theo địa chỉ:
Email: info@bau.vn / Hotline: 0912736240

loading...