Những thiệt thòi của trẻ sinh mổ

Theo ESPGHAN, một tổ chức Y khoa từ Châu Âu chuyên nghiên cứu về dinh dưỡng Nhi khoa cho thấy rằng có một sự khác biệt nhất định trong hệ miễn dịch và hệ tiêu hoá của trẻ sinh mổ và trẻ sinh thường.

Bào thai được nuôi trong một môi trường vô khuẩn và cơ thể con người chỉ bắt đầu tiếp cận với vi trùng khi được sinh ra. Đối với những trẻ sinh thường, sự chuyển dạ của người mẹ sẽ sản sinh ra nhiều hormone giúp trẻ đề kháng tốt. Bên cạnh đó, việc được sinh thường qua đường tự nhiên sẽ giúp hệ miễn dịch trẻ có cơ hội tiếp xúc với hệ vi khuẩn tự nhiên theo đường âm đạo và chỉ mất khoảng 10 ngày để hệ miễn dịch hoạt động tốt.

 

 

Sự khác biệt trong hệ tiêu hoá

 

Bên cạnh sự “non yếu” của hệ miễn dịch, nhiều nghiên cứu độc lập tiến hành tại Phần Lan gần đây cho thấy, sinh mổ còn ảnh hưởng đến cả hệ tiêu hoá, dẫn đến những triệu chứng dễ gặp ở trẻ như: nôn trớ, táo bón, nôn ói, kém phát triển, tiêu chảy,… do khả năng sinh ra vi khuẩn chí đường ruột chậm chạp.

 

Còn trẻ sinh thường “hưởng lợi” nhờ thu nạp được từ cơ thể mẹ những vi khuẩn có lợi, từ đó gia tăng hình thành vi khuẩn chí đường ruột. Điều đó giúp trẻ giảm mắc các bệnh dị ứng: chàm sữa, hen, dị ứng thức ăn; giảm tỉ suất mắc các bệnh nhiễm trùng đường ruột nhờ tạo nên môi trường sinh lý chống lại vi khuẩn gây bệnh; đồng thời vi khuẩn ở ruột còn tham gia tổng hợp vitamine K, B.

 

 

Ngoài ra, khoa học cũng cho thấy rằng, 2/3 hệ miễn dịch của trẻ nằm trong đường tiêu hóa. Vì thế, sự cân bằng của hệ tiêu hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ miễn dịch. Nhất là các loại vi khuẩn nằm trong đường tiêu hóa không chỉ góp phần vào sự phát triển và hoạt động của hệ thống miễn dịch của trẻ mà chúng còn hỗ trợ cơ thể trẻ sản xuất các chất kháng thể chống bệnh tật.

 

Thế nhưng, hiện nay, nhiều mẹ sinh mổ thường dồn nhiều sự quan tâm đến vấn đề hỗ trợ hệ miễn dịch non trẻ của bé hơn là hệ tiêu hoá. Vì thế, mẹ cần quan tâm đúng mức để hỗ trợ cho sự phát triển toàn diện cho trẻ sinh mổ. Đặc biệt, với hệ tiêu hoá còn non nớt dẫn đến việc hấp thu dưỡng chất bị hạn chế hay các nguy cơ rối loạn về tiêu hoá như: ợ hơi, nôn trớ, chướng bụng… là một trong những điều mà các mẹ nên lưu tâm.

Theo Vietnamnet

 

Mọi phản ánh, ý kiến đóng góp, thông tin nóng, bài vở cộng tác của độc giả có thể gửi cho Ban biên tập theo địa chỉ: Email: info@bau.vn / Hotline: 0904 666 276

Nguồn : bau.vn

  • Ăn cá hay bổ sung dầu cá tốt hơn cho mẹ bầu?

    Trong thời kỳ mang thai, chế độ dinh dưỡng của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi. Trong đó, axit béo omega-3 – đặc biệt là DHA và EPA – đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển não bộ và thị giác của em bé. Nhiều mẹ bầu thường băn khoăn nên bổ sung omega-3 bằng cách ăn cá tự nhiên hay sử dụng viên dầu cá. Vậy lựa chọn nào là tối ưu?
  • Giúp mẹ bầu lựa chọn phương pháp sinh đẻ tốt nhất

    Một trong số những chuyện mẹ nên cân nhắc sớm đó là lựa chọn phương pháp sinh đẻ tốt để quá trình diễn ra suôn sẻ. Hãy cùng Bầu khám phá nhé.
  • Trong 3 tháng đầu thai kỳ mẹ bầu có nên tập thể dục không?

    Rất nhiều mẹ bầu băn khoăn có nên tập thể dục ngay từ những tháng đầu tiên của thai kỳ không? 3 tháng đầu thai kỳ tập thể dục có ảnh hưởng gì đến bé không? Hãy cùng theo dõi bài viết của Bau.vn để giải đáp thắc mắc trên nhé.
  • Uống nước vào khi nào tốt cho nước ối của mẹ bầu?

    Quá trình mang thai rất quan trọng đối, đặc biệt là việc bổ sung nước đầy đủ trong thai kỳ. Vậy uống nước vào khi nào tốt cho nước ối của mẹ?
  • Hiện tượng thai sinh hóa và những điều thai phụ cần biết

    Hiện tượng thai sinh hóa là gì, có nguy hiểm không? Phải xử lý như thế nào mới an toàn cho người mẹ. Hãy cùng tìm hiểu về hiện tượng này ngay!
  • Mẹ bầu uống nước dừa mỗi ngày: Lợi đủ đường nhưng cần đúng cách

    Nước dừa từ lâu được xem là loại nước giải khát tự nhiên, vị ngọt dịu, dễ uống và chứa nhiều khoáng chất. Với phụ nữ mang thai, đây còn là thức uống được truyền tai nhau vì những lợi ích cho sức khỏe mẹ và bé. Tuy nhiên, uống nước dừa mỗi ngày có thực sự tốt hay không còn phụ thuộc vào thời điểm, liều lượng và thể trạng từng người.